Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

Vua Charles VIII của Pháp (1470-1498) [Hoàng gia]


Vua nước Pháp từ năm 1483. Chị gái của Charles là Anne cùng chồng là Pierre de Bourbon, nắm quyền nhiếp chính do Charles còn trẻ, ốm yếu và ngu dốt. Khi thiết lập được quyền hành chịu ảnh hưởng của toà án, Charles nhường lại vùng lãnh thổ nhằm theo đuổi mục tiêu về vương quôc Naples. Chiến dịch tốn kém của ông năm 1494-1495 đã đưa ông lên ngôi Naples, nhưng ông bị buộc phải chiến đấu ở Fornovo hòng trốn thoát, song ông chết trong một chiến dịch khác.

Vua Charles VI, Hoàng đế La Mã thần thánh (1685-1740) [Hoàng gia]


Hoàng đế La Mã thần thánh từ năm 1711. Charles lên ngôi vua Tây Ban Nha năm 1700. Năm 1711, ông thừa kế tước vị của người anh trai ở Áo, giúp ông có được sự ủng hộ trong cuộc chiến tranh giành quyền kế vị ngôi vua Tây Ban Nha. Từ năm 1716-1718, Charles chiếm được Đông Âu từ đế chế Ottoman, song đến năm 1740, ông mất phần lớn những gì đã đạt được. Hy vọng của ông rằng cô con gái Maria Theresa có thể nối ngôi ông làm Nữ hoàng nước Áo được dàn xếp bằng cuộc chiến tranh giành ngôi vua nước Áo.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Vua Carlos I của Bồ Đào Nha (1863-1908) [Hoàng gia]



Vị vua áp chót của Bồ Đào Nha. Lịch sử Bồ Đào Nha trong thế kỷ thứ XIX rung chuyển bởi các cuộc xâm lân trong thời gian các cuộc chiến tranh Napoleon, nội chiến và những mốỉ thù hận chính trị. Dưói thòi Luis (1861- 1889), chủ nghĩa cộng hòa lớn mạnh trong khi những người ủng hộ sự thông trị của hoàng đế Bồ Đào Nha nhận thấy tham vọng của họ của châu Phi bị ngưòi Anh hạn chế. Các chính phủ không thể giải quyết những vấn đề của Bồ Đào Nha, cho phép những người theo chủ nghĩa cộng hòa giành được cơ sở ỏ các thị trấn. Joao Franco được chỉ định làm thủ tướng vào năm 1906, cũng không thể đoàn kết những người theo chủ nghĩa quân chủ thù địch và bị nghi là bòn rút công quỹ cho Carlos và có âm mưu thù địch. Năm 1908, Carlos và con trai ông là Luis bị ám sát ỏ Lisbon 1 những người ủng hộ chủ nghĩa cộng hòa vui mừng với sự kiện này và lật đổ con trai út của ông là Manuel II vào năm 1910.

Vua Asoka (269-232 TCN) [Hoàng gia]


Vua Ấn Độ Asoka cai trị Ấn Độ trong 40 năm, Thời kỳ đầu triều đại của ông, ông một mình vào một chiến dịch quân sự mở rộng đế chế, tuy nhiên ông đã quá sốc với nỗi khiếp sợ và cuộc đổ máu đến mức ông chuyển hướng sang đạo Phật - lúc đó mới chỉ là một giáo phái nhỏ - và chọn đạo Phật làm quốc giáo, ông cũng là người truyền bá đạo Phật tối Sri Lanka và trung tâm châu Á.

Vladimir Ilyich Lenin (1870-1924) [Chính trị]


Nhà cách mạng và lý thuyết chính trị người Nga. Lênin thiết lập Liên bang Xô-viết và cầm quyền lãnh đạo chính phủ (1917-1924). Sau thất bại trong cách mạng năm 1905, ông dành thời gian bị lựu đày viết rất nhiều sách cách mạng, bao gồm Dân tộc và Cách mạng, là đóng góp quan trọng nhất của ông vào học thuyết chính trị Marxist. Lênin đã vận dụng chủ nghĩa Marxist vào điều kiện nưốc Nga để hình thành chủ nghĩa Lênin. 

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Vitus Bering (1680 -1741) [Khám phá & Chế ngự]


Nhà hàng hải người Đan Mạch, ông giá nhập hải quân của Sa hoàng Nga Peter đại đế và năm 1724 ông được cử đi thám hiểm hành trình đường thủy giữa Siberia và Bắc Mỹ. Được tiếp tế bằng đường bộ, ông căng buồm đi từ Kamchatka vào khu vực nay được gọi là biển Bering. Ông tiếp tục đi về phía Bắc qua một eo biển nay được đặt tên là eo biển Bering đi vào biển Bắc cực. Sương mù khiến ông không thể thấy được đại lục Bắc Mỹ, song hành trình của ông đã chứng minh được rằng nó đã không gặp đại lục châu Á. Năm 1741, ông lại nhổ neo đi tới Bắc Mỹ, đã thấy được bò biển và cập bến ở đảo Kayak.

Vidkun Quisling (1887-1945) [Chiến tranh]


Nhân vật ủng hộ phát xít người Na-uy. Vidkun donsson hỗ trợ Đảng Quốc xã xâm lược Na-uy và được Adolf Hitler cho lên làm người đứng đầu Na-uy. Ông bị bắt và bị giết vì tội phản quốc năm 1945. Từ ‘Quisling’ trong tiếng Na-uy có nghĩa là ‘kẻ phản quốc’.